Trang chủ     Giới thiệu     Liên lạc     Đặt làm trang chủ         
TIN PHƯỚC HẬU     TIN PHẬT GIÁO     PHẬT HỌC & TRIẾT HỌC     LỊCH SỬ & VĂN HÓA     NGHI LỄ     TỦ SÁCH     Y HỌC     ÂM NHẠC     TUỔI TRẺ     HỎI ĐÁP
   TỦ SÁCH PHẬT GIÁO - Pháp thoại

Thông điệp Kinh Trái Tim
Theo Thích Tâm Thiện/Cattrang.org  

Thông điệp Kinh Trái Tim
(Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh)

Thích Tâm Thiện

(Bản in năm 1997 - có sửa chữa, bổ sung)

 

Thưa qúi Phật tử,

Hôm nay, xin trình bày về kinh Trái Tim (Tâm Kinh), một bản kinh rất ngắn mà các Phật tử trì tụng mỗi ngày. Hầu hết chúng ta đều thuộc lòng bản kinh ngay khi còn theo mẹ lên chùa lễ Phật. Không riêng gì ở Việt Nam, mà các nước Phật giáo trong vùng Viễn Ðông, châu Á, và ngày nay thì cả các nước Âu-Mỹ đều rất quan tâm đến bản kinh vắn này (Heart Sūtra). Tuy nhiên, chúng ta hiểu rất ít về Tâm Kinh. Mục tiêu chính của Tâm Kinh là mô tả con đường thực tiễn để đạt đến “cứu cánh Niết bàn” - mục tiêu tối hậu của hành trình tâm linh chứ không phải là “kinh bổ khuyết”, như một số quan niệm. Do đó, Pháp thoại hôm nay sẽ được trình bày đại cương về thông điệp của Tâm Kinh.

Trước hết, nói về hai chữ: Tâm Kinh (Heart Sūtra). Tâm Kinh là tựa đề gọi tắt của bản kinh mà người Trung Hoa dịch từ tiếng Phạn (Sanskrit) là: Prajñāpāramitā Hrdaya Sūtra; Hoa dịch trọn vẹn là Bát-Nhã Ba-La-Mật-Ða Tâm Kinh. Chúng ta có thể hiểu đại khái như sau: Bát-nhã là trí tuệ (Prajñā), Ba-la-mật-đa là bên kia bờ (pāramitā), Tâm là phần tinh yếu nhất, hay còn gọi là “trái tim” (Hrdaya) - hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, và Kinh là những điều do Ðức Phật dạy (Sūtra). Như vậy có thể nói Tâm Kinh là “bản kinh nói về Trí tuệ ở bên kia bờ”, hay là “Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng”.

Nội dung chính của kinh được trình bày cụ thể qua câu luận đề, mở đầu kinh như sau: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là: "Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng, Người Tỉnh Thức - Bình Yên (Bồ Tát Quán Tự Tại) soi sáng như thực rằng tự tính của năm hợp thể đều là Không, liền thoát ly mọi khổ ách”.

Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về nội dung thông điệp của Tâm Kinh qua một số điểm cơ bản như sau:

1- Năm uẩn:

Mở đầu, chủ thể quan sát ở đây là Bồ Tát Quán Tự Tại, người đi sâu vào thiền định (hiện quán) để quán sát năm hợp thể (uẩn). Kết quả của sự quán sát đó là thấy rõ tự tính của năm hợp thể vốn Không (đương thể tức không) và giải thoát (độ nhất thiết khổ ách). Ðây là nội dung chính của thông điệp Tâm Kinh hay nói khác hơn, đó cũng là điểm then chốt trong toàn bộ cơ cấu tư tưởng triết học Phật giáo Đại Thừa.

Ðức Phật dạy rằng: “Con người là một hợp thể của năm uẩn”. Năm uẩn là con người và năm uẩn cũng là thế giới. Và, “nếu không biết rõ bản chất của năm uẩn thì không thể giải thoát sinh tử khổ đau”. Cũng như con người nếu không biết rõ về trạng thái tâm lý và cơ thể của mình thì sẽ không điều hòa bệnh tật được và sẽ thiếu vắng sự an lành. Do đó, biết rõ (liễu tri) về năm uẩn và thường xuyên quán sát, thiền định về năm uẩn là con đường tu tập thực tiễn, khả dĩ đưa chúng ta đi vào thực tại giải thoát.

Vậy, năm uẩn là gì? Năm uẩn là năm hợp thể (Skandhas) hình thành nên con người; bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

a) Sắc uẩn là những cấu trúc thuộc về vật chất hay vật lý, một trong những yếu tố hình thành nên con người và thế giới sự vật hiện tượng. Ðối với con người, sắc uẩn chính là thân thể (tứ đại) bằng xương bằng thịt này. Các yếu tố như: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, cốt, tủy, tim, gan, phổi, thận, bao tử, hoành cách mô v.v... cho đến các tạp chất nuôi dưỡng cơ thể... hay các nguồn năng lượng tiềm ẩn (vô biểu sắc) trong cơ thể... đều được gọi là sắc uẩn.

b) Thọ uẩn là cảm thọ hay cảm giác của con người bao gồm ba loại: cảm thọ khổ đau, cảm thọ an lạc, và cảm thọ không khổ không lạc.

c) Tưởng uẩn là các ấn tượng của tri giác, hay là các hình ảnh, khái niệm, ngôn từ trong tâm thức.

d) Hành uẩn là sự tạo tác của tâm thức như tư duy, khát vọng, chấp thủ v.v...

e) Thức uẩn là sự tri giác phân biệt hay nhận thức, nó thuộc về chức năng hoạt động của ý thức. Tỉ dụ như khi chúng ta nhìn, nghĩa là con mắt nhìn, nhưng sự thấy biết là do chức năng của nhãn thức chứ không phải là do con mắt. Nếu con mắt tự thấy mà không cần đến thức của nó thì khi móc con mắt ra ngoài, ta có thấy hay không? Tương tự như vậy đối với các uẩn còn lại.

Như thế ở đây, ý thức hay tâm thức là nguyên động lực chi phối toàn bộ năm uẩn. Ðây là lý do Ðức Phật dạy “Ý (tâm, thức) dẫn đầu các pháp, ý làm chủ tạo tác, đối với ý nhiễm ô, nói năng hay hành động, khổ não bước theo sau, như bánh xe đi theo chân con vật kéo... Ðối với ý thanh tịnh, an lạc bước theo sau, như bóng không rời hình” (Kinh Pháp Cú). Do đó “hành thâm Bát nhã” chính là sự nỗ lực vận dụng tâm của mình để  quán chiếu ngay nơi tâm thức và thân thể của mình. Ðây là ý nghĩa của quán tâm trên tâm và thân trên thân (trong Tứ niệm xứ quán).

2- Năm uẩn là Không

Trên đây, vừa trình bày về thành phần của năm uẩn. Bây giờ, chúng ta sẽ tìm hiểu về ý nghĩa của “năm uẩn là Không”.

Trước hết, về Sắc uẩn - tức thân thể con người (nội sắc) và các đối tượng tương duyên của nó (ngoại sắc) đều là Không. Vì sao nói Sắc uẩn là Không?

Ở đây, các anh chị em thử lấy con người làm đối tượng quán sát. Chúng ta sẽ thấy rằng, nếu nhìn từ một toàn thể (universal), thì con người bao gồm hai yếu tố: vật lý (thuộc về sắc) và tâm lý (thuộc về thọ, tưởng, hành và thức). Như thế, một con người bao giờ cũng phải đầy đủ hai yếu tố cơ bản, vật lý (thể xác) và tâm lý (tinh thần hay cụ thể là: thọ, tưởng, hành, và thức); điều đó có nghĩa là con người là một hợp thể của năm uẩn. Và con người (năm uẩn) đó chỉ tồn tại theo một chu kỳ nhất định (có thể là trăm năm) và được giới hạn bởi hai đầu sinh và tử; vì có sinh nên có tử. Từ đó cho thấy rằng, con người trong kết cấu của năm uẩn vốn không có một ngã thể (self) trường tồn bất diệt, vì vậy “năm uẩn là Không” hay không có một tự tính nào trong thân năm uẩn.

Ngược lại, nếu nhìn con người qua phân tích của mỗi đặc thù (particular), thì cái mà gọi là con người sẽ không còn nữa. Bởi lẽ, từ thể chất nguyên thủy, mỗi thai nhi tựu thành đều do sự kết hợp của cha, mẹ và kiết sanh thức (gandhabba) hay ý niệm tối sơ, cũng còn gọi là “tập khí nghiệp thức” từ nhiều kiếp sống trong quá khứ. Và thực thể của những “khí chất đầu tiên” đó cũng chỉ là sự tương duyên, nó không hề có một ngã tính. Hơn thế nữa, dưới lăng kính của đơn vị đặc thù (particular), cái chân không thể gọi là con người, cái tay không thể gọi là con người, cái ý thức cũng không thể gọi là con người; trái lại, con người chỉ có thể hiện hữu khi nó hòa phối đầy đủ các yếu tố của tâm lý và vật lý. Vả lại, bản thân của cơ thể vật lý như: tay, chân, cơ bắp v.v... cho đến ý thức nó luôn luôn biến đổi, sinh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc, như sự sinh diệt của mỗi tế bào nhỏ nhiệm trên làn da hay trong dòng máu. Ðiều đó cho thấy rằng năm uẩn hoàn toàn không có tự tính hay ngã tính nào, bởi vì nó sinh diệt liên hồi. Năm uẩn là tiến trình hiện hữu (process of becoming) chứ không phải là thực thể (entity) hiện hữu. Do đó chúng được gọi là Không.

3- Tiến trình hiện hữu của năm uẩn

Như chúng ta thấy, thực tính của năm uẩn là tương duyên, vô thường. Nhưng tại sao lại xuất hiện khái niệm tự tính để rồi phải phủ nhận cái tự tính đó?

Nếu đi vào hiện quán, chúng ta sẽ thấy rằng ý thức về tự ngã thật ra chỉ là một quá trình tích tụ của những ảnh tượng (tưởng) và kinh nghiệm (thọ, tưởng, hành và thức) từ quá khứ vô tận. Dòng quá khứ đó, tất nhiên, là mộng tưởng hão huyền, vì trong thực tại nó không hề có và không hiện hữu. Tuy nhiên, chúng ta nên biết cái ý niệm về tự ngã từ đâu sinh?

Tâm Kinh nói rằng, ý thức tự ngã sai lầm đó được sinh ra từ mối tương duyên, tương tác của 18 điểm sinh khởi (dhātus), tức là các uẩn (skandhas), xứ (ayatanas) và giới (dhātus). Nói một cách cụ thể, 18 điểm sinh khởi bao gồm: 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp); sự giao tiếp giữa 6 căn và 6 trần sẽ hình thành 6 thức (hay tri giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Cộng chung 6 căn, 6 trần, và 6 thức nên gọi là 18 điểm sinh khởi (giới). Tỉ dụ, khi con mắt (nhãn căn) nhìn một cành hoa (trần) rồi sinh khởi ý niệm về cành hoa đó (thức). Như thế, con mắt nhìn cành hoa rồi sinh khởi ý thức về cành hoa là quá trình tương tác của các uẩn, xứ, giới. Ở đây, nếu tách 5 uẩn, 12 xứ, và 18 giới ra thành từng cụm riêng biệt, thì thế giới sẽ thực thụ biến thành rỗng không, mọi ý niệm về ngã—cái tôi, cái của tôi, và cái tự ngã của tôi— sẽ biến mất hoàn toàn. Do đó, cái mà chúng ta gọi là thế giới quan hay nhân sinh quan, trong cái nhìn của Phật giáo và đặc biệt là trong lăng kính của Bát nhã, chỉ là những ý niệm hão huyền.

Và nữa, đối với con người, năm uẩn là hiện thân vòng tròn 12 nhân duyên được trình bày như sau: 1.Vô minh (Ignorance): sự mê muội và cuồng si của tâm thức; 2. Hành (karmic formations): các cấu trúc của dòng tâm thức; 3. Thức (consciousness): Tri giác - hiện hữu (vì thức không thể có trong quá khứ hoặc tương lai); 4. Danh sắc (corporeality and mentality): danh thuộc về tâm lý, sắc thuộc về vật lý; 5. Lục nhập (six sense-bases): sáu quan năng (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp); 6. Xúc (contact): sự giao thoa giữa căn, trần, và thức; 7. Thọ (feeling): sự cảm thọ; 8. Ái (craving): sự yêu thích, khát vọng; 9. Thủ (clinging): sự cố chấp, bám víu; 10. Hữu (process of becoming): tiến trình hiện hữu hay các cõi của chúng hữu tình; 11. Sinh (birth): sự sinh ra, hình thành; 12. Lão - tử (old age-and-death): sự già nua và tử biệt.

Mười hai nhân duyên, nếu phân tích theo thời gian vật lý, nó là một tiến trình luân lưu từ qúa khứ đến hiện tại và vị lai; nếu phân tích theo dòng tâm thức, nó là một vòng tròn, trong đó, mỗi sát na (khoảnh khắc giữa hai ý niệm) đều có đầy đủ 12 nhân duyên. Sự lưu chuyển của 12 nhân duyên được diễn ra theo hai chiều của Bốn chân lý (khổ, tập, diệt, đạo), đó là con đường lưu chuyển và hoàn diệt. Trên con đường lưu chuyển, 12 nhân duyên sẽ đi từ nhân (tập) đến quả (khổ). Trên con đường hoàn diệt, 12 nhân duyên sẽ đi từ nhân (đạo) đến thoát ly nhân quả (diệt), tức đã đến bờ bên kia, cứu cánh Niết bàn.

 Từ đây, ta thấy rằng cội nguồn của tự ngã là không thật có. Tất cả pháp, cả vật lý và tâm lý, đều là hiện hữu của nhân duyên nên vô thường, vô ngã. Vì thế kinh nói rằng “ngũ uẩn giai không”. Chúng ta vừa khảo sát về bản chất của con người qua các uẩn, xứ, giới, 12 nhân duyên và 4 chân lý. Ðể hiểu rõ về giáo lý này, mỗi Phật tử cần phải dừng lại mọi vọng tưởng để đi vào hiện quán (thiền định). Sự thông hiểu thật sự đối với bản chất của các pháp chỉ có thể đạt được qua thể nghiệm của tự thân.

4- Tính Không trong Tâm Kinh

Về ý nghĩa của chữ “Không” (Śūnyatā) trong Tâm Kinh, trước hết chúng ta cần lưu ý rằng, “Không” ở đây không có nghĩa là đối lập với có, mà “Không” là thực tính Duyên sinh của hiện hữu (dharmas). Do đó, Không chính là “Bản tính không” hay “Tất cánh không”, nó ở bên kia bờ của khái niệm, luận lý. Chúng ta chỉ có thể đi vào Tính Không thực thụ khi nào đã thoát ly mọi khái niệm, luận lý của tư duy hữu ngã, thuộc thế giới nhị nguyên, nghĩa là đi ra khỏi mọi đối lập của các phạm trù hữu-vô, sinh-diệt, thường-đoạn, đồng-dị, khứ-lai; cũng như thoát ly ngoài thế giới phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Ðó là lý do tại sao Tâm Kinh phủ nhận tất cả uẩn, xứ, giới, phủ nhận luôn cả bốn chân lý và mười hai nhân duyên; cho đến cả trí giác và sự chứng đắc của trí giác đều bị phủ nhận. Ðiều này đơn giản chỉ vì các uẩn, xứ, giới, mười hai nhân duyên và bốn chân lý... đều là khái niệm được dùng để chỉ các hiện tượng tâm lý và vật lý, nó chỉ có ý nghĩa đối với người còn vô minh. Với những tâm thức chưa giác ngộ thì thế giới này và con người này là có sinh-diệt, có nhân-quả, có phàm-thánh v.v... Nhưng nếu dùng Tuệ giác vô thượng (Bát nhã trí) để soi sáng vũ trụ vạn hữu này, thì bản chất của các pháp đều là không, cho đến cái ý niệm về không cũng không có, nên gọi là “Tất cánh không”. Do đó, không thể nói là có quả vị nào đó để chứng đắc; vì nếu còn có quả vị để chứng đắc nghĩa là còn đối lập với cái không quả vị được chứng đắc. Sự có và không này rơi vào nhị nguyên luận. Cho nên, mọi khái niệm về có và không đều mang tính chất công ước và được nói cho người chưa giác ngộ, chứ không phải nói cho bậc thánh trí tự chứng. Cũng vậy, tính Không ở đây vượt ngoài tương đối tính; nó đồng nghĩa với Diệt đế, Niết bàn tối thượng. Chúng ta không thể hiểu biết toàn diện về tính Không, trừ phi đã qua đến bờ bên kia.

5- Triết lý Sắc-Không

Kinh bảo rằng: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc…” Ðây là một trong những vấn đề rất khó hiểu của Tâm Kinh nói riêng và tư tưởng Phật giáo Đại thừa nói chung. Vì rằng, theo nguyên tắc logic của tư duy như được trình bày bởi Aristotle thì tư duy của con người dù phức tạp như thế nào đi nữa cũng phải diễn ra trong ba qui luật như sau:

a) Qui luật đồng nhất: Qui luật này bảo rằng, một vật thể khi được gọi là A, thì nó phải luôn luôn là A. Công thức: A = A

b) Qui luật cấm mâu thuẫn: Qui luật này bảo rằng, một vật thể hoặc được gọi là A, hoặc là B, chứ không thể vừa là A lại vừa B. Công thức: A = A hoặc B = B

c) Qui luật triệt tam: Qui luật này bảo rằng, một vật thể chỉ được gọi hoặc là A, hoặc là B chứ không có trường hợp thứ ba xảy ra. Công thức: A =/= B

Trong khi đó, theo nguyên lý Duyên sinh (Paticcasamupāda), tất cả thế giới sự vật hiện tượng này là vô thường, chúng luôn luôn thay đổi và không ngừng trôi chảy như Héraclite đã nói: “Không ai có thể đặt chân hai lần trên cùng một dòng nước.” Điều này có nghĩa là, hiện hữu luôn luôn biến đổi, vô thường; và do đó, một vật tuy được gọi là A nhưng nó luôn luôn khác A. Ðây là cơ sở để chúng ta hiểu triết lý Sắc-Không.

Tâm Kinh nói: “Sắc chẳng khác Không, không chẳng khác Sắc.” Rõ ràng, sắc và không ở đây trước hết được đề cập như là hai phạm trù riêng biệt; rồi sau đó hai phạm trù riêng biệt này bị phủ định bằng một phát biểu tiếp theo, rằng “Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Điều này có nghĩa là sắc và không là không hai, không khác. Để hiểu ý nghĩa của cách diễn đạt này, chúng ta có thể lấy hình ảnh của sóng và nước để làm thí dụ. Sóng không khác với nước và nước không khác với sóng. Sóng không khác nước ở mặt tự thể, vì sóng do nước mà sinh ra. Nước không khác sóng ở mặt hiện tượng, vì nước chuyển động mạnh tạo thành sóng. Do đó, sóng là nước và nước là sóng. Tương tự như vậy đối với sinh tử và Niết bàn. Đây là một cách diễn dịch về Sắc-Không, thông qua cách diễn dịch này, chúng ta có thể ngầm hiểu được triết lý Bất nhị (không hai) của Bát nhã, đó là một cánh cửa “siêu việt mọi đối đãi của nhị nguyên” để thiết lập “tịnh độ” ngay tại con người này và thế giới này.

6- Thành tựu giác ngộ giải thoát

Vì sao Tâm kinh nói: “Vô trí diệc vô đắc” nghĩa là “Không có trí giác và không có sự thành tựu trí giác”, mà ở đây lại đề cập đến sự thành tựu giác ngộ - giải thoát? Vì rằng, sự thành tựu giác ngộ - giải thoát theo tư tưởng Phật giáo nói chung, là sự trở về với thể tánh uyên nguyên, vốn có trong mỗi con người, chứ không phải là sự nắm bắt được một cái gì mới mẻ, xa lạ. Và sự thành tựu này chính là sự đạt đến trí tuệ vô ngã hay thể nhập thực tại Tính Không, Niết bàn tối thượng. Như đào ao, không cần đi mời trăng đến, khi nào có ao và nước trong đó được bình lặng thì mặt trăng tự nhiên hiện ra. Ðây là ý nghĩa “vô trí diệc vô đắc” (không có trí cũng không có chứng đắc) của Tâm Kinh. Và trí tuệ vô đắc (Bát nhã trí) này là mẹ của ba đời chư Phật. Tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều nương vào trí tuệ này mà thành tựu vô thượng chánh giác. Tất nhiên, sự thành tựu vô thượng chánh giác, theo diễn đạt của Tâm Kinh, được khởi đầu bằng con đường “chiếu kiến ngũ uẩn”, tức là đi vào hiện quán về năm uẩn. Thực hành như vậy cho đến khi nào thấy rõ “năm uẩn” và bản chất của chúng là “không có tự tính” (vô tự tính), tức là thành tựu giác ngộ. Và kết quả của sự giác ngộ này là “độ nhất thiết khổ ách” (giải thoát toàn triệt). Quá trình tu tập như thế được gọi là “hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật”. Trên đây là tất cả những gì được chứa trọn trong câu luận đề, mở đầu của Tâm kinh.

7- Bên kia bờ

Kết luận, Tâm Kinh tuyên nói câu linh ngữ rằng: “Gate, gate; pāragate, parasamgate, Bodhi, svāhā!”  Tiếng Việt là: “Ði qua, đi qua; đi qua bờ bên kia, đã đi qua đến bờ bên kia, svāhā!”

Các Phật tử thân mến, khi được nạn vấn về những gì bên kia bờ, Ðức Phật im lặng!

"Sóng về xóa dấu chân không
Bỗng dưng thuyền đã bên dòng Chân như".

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát


Các tin khác


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần giới thiệu


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần 1


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần 2


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần 3


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần 3 (tt)


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần 4


  • Tâm lý học Phật Giáo - Phần 5


  • Bốn Đại, Sáu Đại, Mười Hai Xứ Và Mười Tám Giới


  • Hài nhi tóc bạc - Phần 4


  • Hài nhi tóc bạc - Phần 3


  • Hài nhi tóc bạc - Phần 2


  • Hài nhi tóc bạc -Phần 1


  • Giáo lý nghiệp (KARMA)


  • Sự thật về chân lý công ước


  • Thực tại tính không


  • Tịnh Không Pháp Ngữ (tt)


  • Tịnh Không Pháp Ngữ (tt)


  • Ý niệm sai lầm - Pháp ngữ Tịnh Không


  • Tịnh Không Pháp Ngữ


  • Tịnh Không Pháp Ngữ



  • TIN PHƯỚC HẬU     TIN PHẬT GIÁO     PHẬT HỌC & TRIẾT HỌC     LỊCH SỬ & VĂN HÓA     NGHI LỄ     TỦ SÁCH     Y HỌC     ÂM NHẠC     TUỔI TRẺ     HỎI ĐÁP

    CHÙA PHƯỚC HẬU
    THÔN PHÚ AN, XẤ PHÚ HỘI, ĐỨC TRỌNG, LÂM ĐỒNG
    ĐT: 063.3846831
    Email: phuochau@chuaphuochau.com.vn
    Website: www.chuaphuochau.com.vn
    Copyright ©2010 Chua Phuoc Hau. All rights reserved.

    Mọi tin tức, bài vở, ý kiến và xây dựng xin liên lạc:
    Trụ trì Chùa Phước Hậu: Đại đức Thích Hạnh Huệ
    Điện thoại: 0972 846 831 - 0912 666 220
    Email: phuochau@chuaphuochau.com.vn